Liên kết theo chuỗi giá trị – “Chìa khóa” nâng tầm giá trị miến dong
Từ một nghề truyền thống sản xuất nhỏ lẻ, thiếu liên kết, cây dong riềng đang từng bước trở thành ngành hàng có giá trị nhờ sự tham gia của hợp tác xã trong tổ chức sản xuất, xây dựng vùng nguyên liệu và kết nối thị trường. Thành công của Hợp tác xã Tài Hoan – xã Côn Minh, tỉnh Thái Nguyên là minh chứng rõ nét cho hiệu quả của mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân và gia tăng giá trị nông sản địa phương.
Từ một nghề truyền thống sản xuất nhỏ lẻ, thiếu liên kết, cây dong riềng đang từng bước trở thành ngành hàng có giá trị nhờ sự tham gia của hợp tác xã trong tổ chức sản xuất, xây dựng vùng nguyên liệu và kết nối thị trường. Thành công của Hợp tác xã Tài Hoan – xã Côn Minh, tỉnh Thái Nguyên là minh chứng rõ nét cho hiệu quả của mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân và gia tăng giá trị nông sản địa phương.
Từ sản xuất nhỏ lẻ đến chuỗi liên kết bền vững
Nghề làm miến của gia đình bà Nguyễn Thị Hoan được gìn giữ từ khoảng năm 1965. Trước năm 2018, hoạt động sản xuất chủ yếu theo quy mô hộ gia đình với nhà xưởng nhỏ, máy móc đơn giản, sản phẩm bán thô cho thương lái, chưa có bao bì, nhãn mác hay thương hiệu. Mỗi năm chỉ sản xuất khoảng 7–10 tấn miến khô nên giá trị gia tăng còn thấp.
Nhận thấy muốn phát triển phải thay đổi phương thức sản xuất, năm 2018 bà Nguyễn Thị Hoan thành lập Hợp tác xã Tài Hoan với 7 thành viên. Dù gặp nhiều khó khăn trong những ngày đầu do mô hình Hợp tác xã còn mới tại địa phương, nhưng với sự hỗ trợ của cơ quan chuyên môn và quyết tâm của các thành viên, Hợp tác xã đã từng bước tổ chức lại sản xuất theo hướng liên kết.
Năm 2019, Hợp tác xã bắt đầu ký hợp đồng liên kết, bao tiêu nguyên liệu với các hộ trồng dong riềng. Theo đó, Hợp tác xã cam kết thu mua với giá tối thiểu 2.000 đồng/kg; khi giá thị trường thấp vẫn giữ mức giá đã cam kết, khi giá tăng sẽ thu mua theo giá thị trường. Cơ chế này giúp người dân yên tâm đầu tư sản xuất, không còn lo đầu ra hay bị ép giá.
Đến nay, Hợp tác xã đã liên kết với gần 700 hộ dân, xây dựng vùng nguyên liệu khoảng 70 ha, từng bước hình thành chuỗi liên kết chặt chẽ từ sản xuất đến tiêu thụ.
Bà Nguyễn Thị Hoan kiểm tra công đoạn phơi miến dong sau chế biến
Bà Nguyễn Thị Hoan - Giám đốc Hợp tác xã Tài Hoan cho biết: "Điều chúng tôi hướng đến không chỉ là làm ra nhiều miến hơn mà là xây dựng chuỗi liên kết bền vững. Khi người dân có đầu ra ổn định, Hợp tác xã chủ động được nguồn nguyên liệu, còn người tiêu dùng được sử dụng sản phẩm có chất lượng và nguồn gốc rõ ràng."
Chuỗi liên kết tạo động lực phát triển
Có đầu ra ổn định, người dân mạnh dạn đầu tư thâm canh, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, tham gia sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP và hướng hữu cơ. Năng suất dong riềng bình quân tăng từ 45–50 tấn/ha lên khoảng 70 tấn/ha, doanh thu đạt khoảng 140 triệu đồng/ha.
Ông Nguyễn Văn Sử - thôn Chè Cọ, xã Côn Minh – một trong những hộ dân tiêu biểu tham gia liên kết chia sẻ: "Trước đây giá cả bấp bênh nên nhiều năm không mặn mà với cây dong riềng. Từ khi có Hợp tác xã bao tiêu sản phẩm, chúng tôi yên tâm đầu tư sản xuất, có thu nhập ổn định. Ngoài ra chúng tôi còn được hướng dẫn kỹ thuật, hỗ trợ về giống, phân vi sinh được ủ từ bã dong riềng, tro bếp nên năng suất cao hơn, giảm được chi phí đầu vào."
Từ năm 2021 đến nay, Hợp tác xã từng bước xây dựng vùng nguyên liệu theo hướng sản xuất an toàn, hiện duy trì khoảng 10 ha đạt tiêu chuẩn VietGAP và 10 ha sản xuất theo hướng hữu cơ, chủ yếu tại xã Côn Minh. Không chỉ chú trọng vùng nguyên liệu, Hợp tác xã còn hoàn thiện quy trình quản lý chất lượng trong chế biến. Năm 2024, đơn vị được cấp chứng nhận ISO 22000:2018 về hệ thống quản lý an toàn thực phẩm trong chuỗi thực phẩm và tiếp tục được chứng nhận duy trì tiêu chuẩn này vào năm 2026. Bên cạnh đó, Hợp tác xã tận dụng bã dong riềng sau chế biến, ủ với chế phẩm vi sinh để sản xuất phân bón hữu cơ cung cấp cho các hộ liên kết, góp phần giảm chi phí đầu vào, cải tạo đất và thúc đẩy phát triển nông nghiệp tuần hoàn.
Song song với phát triển vùng nguyên liệu, Hợp tác xã đầu tư mở rộng nhà xưởng, đổi mới máy móc với tổng vốn trên 10 tỷ đồng. Nhờ đó, sản lượng miến tăng từ khoảng 7–10 tấn/năm lên khoảng 390 tấn/năm.
Các thành viên Hợp tác xã đóng gói sản phẩm
Đến nay, Hợp tác xã đã phát triển nhiều dòng sản phẩm, được đầu tư bao bì, tem nhãn, mã QR truy xuất nguồn gốc, đáp ứng các quy định về an toàn thực phẩm. Sản phẩm được công nhận đạt OCOP 5 sao cấp quốc gia, nhãn hiệu được Cục Sở hữu trí tuệ bảo hộ và từng bước khẳng định vị thế tại thị trường trong nước cũng như các thị trường có yêu cầu cao như Cộng hòa Séc, Hoa Kỳ, Australia và Hàn Quốc.
Theo đánh giá của cơ quan chuyên môn, hiệu quả nổi bật của mô hình không chỉ ở việc nâng cao sản lượng hay mở rộng thị trường mà còn ở vai trò của Hợp tác xã trong tổ chức lại sản xuất, xây dựng vùng nguyên liệu tập trung, kiểm soát chất lượng và hình thành chuỗi giá trị khép kín từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ.
Hướng tới phát triển bền vững
Thời gian tới, Hợp tác xã tiếp tục đầu tư nâng cấp nhà xưởng, máy móc, hoàn thiện bao bì, tem nhãn và hệ thống truy xuất nguồn gốc; mở rộng vùng nguyên liệu từ 70 ha lên 100 ha, tăng diện tích sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP và hướng hữu cơ, đồng thời tiếp tục hoàn thiện các tiêu chí tham gia đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP 5 sao cấp quốc gia năm 2027.
Cùng với việc giữ vững các thị trường xuất khẩu hiện có, Hợp tác xã sẽ mở rộng hợp tác với các đối tác mới nhằm nâng cao sản lượng và giá trị sản phẩm.
Thực tiễn cho thấy, mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị không chỉ nâng cao giá trị sản phẩm miến dong mà còn tạo đầu ra ổn định cho người dân, thúc đẩy phát triển kinh tế tập thể và mở ra hướng phát triển nông nghiệp hiện đại, bền vững./.